Định chế tài chính

Những đóng góp của Doanh nghiệp Bảo hiểm trong lịch sử 20 năm Thị trường Bảo hiểm Việt Nam

Doanh thu phí BH có tốc độ tăng cao. Từ doanh thu 700 tỷ đồng năm 1993, đến năm 2013 doanh thu phí bảo hiểm Phi nhân thọ ước đạt 25.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 10%), Nhân thọ ước đạt 21.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 15%). Doanh thu Môi giới BH chiếm 18% phí bảo hiểm gốc Phi nhân thọ. Tốc độ tăng trưởng bình quân bảo hiểm Phi nhân thọ và Nhân thọ xấp xỉ 20%/năm. Xin giới thiệu bài tổng hợp của TS Phùng Đắc Lộc - Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam.

I. Những đóng góp của các Doanh nghiệp Bảo hiểm trong 20 năm qua

1. Số lượng Doanh nghiệp Bảo hiểm (DNBH) tăng nhanh từ 1 DNBH năm 1993, đến nay đã có 29 DNBH Phi nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm (BH), 16 DNBH Nhân thọ, 12 doanh nghiệp Môi giới BH vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cung cấp sản phẩm BH và chất lượng phục vụ.

2. Số lượng sản phẩm BH ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng cơ bản nhu cầu về BH của nền kinh tế xã hội và người dân. Từ 20 sản phẩm BH Phi nhân thọ năm 1993 đến nay đã có hơn 800 sản phẩm BH Phi nhân thọ đăng ký và báo cáo Bộ Tài chính (BTC), hơn 350 sản phẩm BH được BTC phê duyệt, 3 sản phẩm BH bắt buộc được BTC ban hành, 4 sản phẩm BH thí điểm được BTC ban hành.

3. Doanh thu phí BH có tốc độ tăng cao. Từ doanh thu 700 tỷ đồng năm 1993, đến năm 2013 doanh thu phí bảo hiểm Phi nhân thọ ước đạt 25.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 10%), Nhân thọ ước đạt 21.000 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 15%). Doanh thu Môi giới BH chiếm 18% phí bảo hiểm gốc Phi nhân thọ. Tốc độ tăng trưởng bình quân bảo hiểm Phi nhân thọ và Nhân thọ xấp xỉ 20%/năm.

4. Bồi thường và trả tiền BH tăng, đảm bảo an toàn tài chính, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ xảy ra. Năm 2013, các DNBH Phi nhân thọ ước giải quyết bồi thường 10.000 tỷ đồng và dự phòng bồi thường cho các tổn thất đã xảy ra 5.000 tỷ đồng, DNBH Nhân thọ ước trả tiền BH 8.400 tỷ đồng trong đó 1.500 tỷ đồng bảo tức tích lũy. Bình quân hàng năm các DNBH Phi nhân thọ giải quyết bồi thường 65% doanh thu phí BH (bao gồm dự phòng bồi thường), DNBH Nhân thọ trả tiền BH 40% doanh thu phí BH bao gồm trả cho sự kiện BH, đáo hạn hợp đồng, bảo tức tích lũy và chấm dứt hợp đồng trước hạn.

5. Đối tượng tham gia BH ngày càng đông đảo. Đến nay lực lượng khách hàng tham gia BH bao gồm: hơn 500.000 cơ sở sản xuất kinh doanh (kể cả công ty thành viên, chi nhánh), 100.000 đơn vị hành chính sự nghiệp (kể cả bệnh viện, trường học), 20 triệu người BH thân thể toàn diện, 20 triệu học sinh, 7,5 triệu chủ xe máy và 1,5 triệu chủ xe ô tô, 5 triệu  hợp đồng BH Nhân thọ, 5 triệu hợp đồng BH bổ sung cho BH Nhân thọ.

6. Các DNBH mở rộng mạng lưới hoạt động, thực hiện phương châm quản lý tập trung, khai thác và phục vụ khách hàng tại chỗ. Khối DNBH Phi nhân thọ từ năm 1993 có 40 chi nhánh đến nay đã có hơn 600 chi nhánh, công ty thành viên, hơn 1.000 phòng giao dịch (cấp quận, huyện). Các DNBH Nhân thọ đã có hơn 100 văn phòng chi nhánh, hơn 500 tổng đại lý BH, hơn 1.000 ban, nhóm đại lý tại các địa phương.

7. Các DNBH không ngừng đào tạo và phát triển kênh phân phối. Ngoài phân phối qua 12 doanh nghiệp Môi giới BH còn đào tạo phát triển phân phối qua đại lý BH gồm 40.000 đại lý bảo hiểm Phi nhân thọ, 220.000 đại lý bảo hiểm Nhân thọ. Ngoài ra các DNBH đang chú trọng phát triển sản phẩm BH bán qua ngân hàng, bưu điện, tổng đài điện thoại, thương mại điện tử và các tổ chức kinh tế xã hội khác. Đây là lực lượng tích cực tuyên truyền giải thích hướng dẫn tư vấn cho khách hàng tham gia BH.

8. Chất lượng nguồn nhân lực ngày một tăng. Từ đội ngũ 700 người năm 1993 đến nay khối Phi nhân thọ đã có hơn 15.000 cán bộ nhân viên, khối Nhân thọ có trên 10.000 cán bộ nhân viên (trong đó 5% trên đại học, 85% đại học). Đặc biệt thu hút được nhiều chuyên gia quản lý, nghiệp vụ tính phí là người nước ngoài và Việt kiều phục vụ tại DNBH.

9. Đầu tư vào nền kinh tế quốc dân: Từ 300 tỷ đồng (năm 1993), đến năm 2013 đầu tư tài chính của các DNBH ước đạt trên 100.000 tỷ đồng (năm 2012 là 89.567 tỷ đồng chưa kể của VINARE và PVI RE) tương đương với 5 tỷ USD, là nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng phát triển đất nước. Kết quả đầu tư đem lại bảo tức cho bảo hiểm Nhân thọ và giảm đóng góp phí bảo hiểm Phi nhân thọ.

10. Các DNBH góp phần hỗ trợ cho các ngành nghề mới phát triển. Nhờ có sản phẩm BH đáp ứng nhu cầu của các ngành nghề mới, DNBH đã hỗ trợ cho các ngành như: BH cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), xây dựng đường cao tốc, các công trình ngầm và cao ốc, thủy điện, hàng không, dầu khí, viễn thông, vệ tinh, tàu và đóng tàu, xe cơ giới, đường sắt đô thị và chuẩn bị cung cấp dịch vụ cho các nhà máy điện hạt nhân.

11. Các DNBH đóng góp nhiều cho hoạt động an sinh xã hội. Mỗi năm các DNBH tài trợ gần 50 tỷ đồng cho các hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật liên quan đến BH, đề phòng hạn chế tổn thất đảm bảo trật tự an toàn giao thông, khuyến học, văn hóa thể thao, ủng hộ người nghèo và gia đình có công với cách mạng, cứu trợ đồng bào gặp thiên tai tai nạn.

II. Những tồn tại và hạn chế của các DNBH

1. Tình trạng cạnh tranh chưa lành mạnh ngày càng gay gắt: Hạ phí BH, mở rộng điều khoản điều kiện BH để lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Lôi kéo cán bộ chủ chốt, đại lý BH, tổng đại lý của đối thủ cạnh tranh, làm tăng chi phí khai thác và giảm hiệu quả kinh doanh. Nhiều DNBH lỗ về nghiệp vụ BH, nhiều sản phẩm BH bị lỗ nhiều năm liên tục.

2. Tính hợp tác chia sẻ giữa các DNBH không cao. Thể hiện ở việc hạn chế chia sẻ thông tin khách hàng, đánh giá rủi ro, đồng BH và tái BH, phòng chống trục lợi BH.

3. Chưa có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng đủ nhu cầu quản lý, giám sát kịp thời; đánh giá, phân tích đầy đủ đối tượng khách hàng và đối tượng BH từ khâu khai thác, định phí BH, giám định, bồi thường, chăm sóc khách hàng.

4. Chưa có biện pháp kịp thời quản lý tính tuân thủ của các chi nhánh, công ty thành viên trong việc thực hiện phân cấp, phân quyền cũng như thực hiện các quy định quy trình về khai thác, quản lý khách hàng, quản lý rủi ro, giám định và giải quyết bồi thường, đề phòng hạn chế và phát hiện trục lợi BH, chi phí khai thác bồi thường và hiệu quả kinh doanh.

5. Chưa có biện pháp gìn giữ khách hàng truyền thống, khách hàng trọng điểm và ưu tiên phát triển sản phẩm BH hiệu quả cao bằng các chính sách chăm sóc khách hàng, chiết khấu giảm phí BH cho khách hàng tham gia BH nhiều năm liên tục hoặc khách hàng nhiều năm không có tổn thất phải bồi thường, hỗ trợ khách hàng chi phí đề phòng hạn chế tổn thất hoặc bồi thường nhân đạo.

6. Nhiều DNBH đầu tư tài chính vào các danh mục đầu tư không có hiệu quả hoặc rủi ro cao dẫn tới phải trích lập dự phòng lớn, thậm chí mất khả năng thu hồi, đặc biệt là là khoản nợ đọng phí BH được chuyển thành cho vay, góp vốn hoặc đầu tư trái phiếu của đối tượng mua BH.

III. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước

1. Hoàn thiện chế độ quản lý nhà nước bằng việc tăng cường thanh tra kiểm tra và tiến hành sửa đổi bổ sung Nghị định 45, Nghị định 46 và các Thông tư hướng dẫn để hạn chế cạnh tranh chưa lành mạnh, phòng chống và xử phạt hành vi trục lợi BH, kiểm soát danh mục đầu tư của DNBH. Cho phép các DNBH thực hiện các chi phí để chăm sóc khách hàng và gìn giữ khách hàng truyền thống, khách hàng trọng yếu như đã trình bày phần trên.

2. Cần tổng kết đánh giá lại hoạt động của doanh nghiệp Môi giới BH và đề ra các giải pháp ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp Môi giới BH đưa ra bản chào có quy tắc điều khoản điều kiện BH mở rộng nhất, phí BH thấp nhất để buộc các DNBH phải chấp nhận, ảnh hưởng đến biên khả năng thanh toán của DNBH.

3. Cần tổng kết đánh giá hoạt động đại lý BH để hạn chế những hành vi vi phạm của đại lý BH ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng và DNBH; nâng cao chất lượng đào tạo đại lý BH; đảm bảo đại lý đủ thu nhập cho cuộc sống để phát triển đội ngũ đại lý BH chuyên nghiệp.

4. Cần tổng kết đánh giá hoạt động tái BH trong, ngoài nước và nhận tái BH của các DNBH để đưa ra giới hạn tự BH, tính hợp tác chia sẻ rủi ro giữa các DNBH, hạn chế tình trạng phí BH thấp hơn quy định của nhà tái BH nước ngoài thì chào tái BH cho các DNBH trong nước. Cần xem xét đưa ra chuẩn mực của một quy trình tái BH.

5. Cần có chính sách hỗ trợ cho các DNBH triển khai các sản phẩm BH mang tính đặc thù hoặc an sinh xã hội như: BH nông nghiệp, tín dụng xuất khẩu, hưu trí tự nguyện, nhà máy điện hạt nhân nguyên tử, vi mô, thiên tai cho vùng gặp khó khăn thường xuyên bị thiên tai gây thiệt hại.

NGUỒN: TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM, http://www.avi.org.vn/News/Item/1884/257/vi-VN/Default.aspx