Định chế tài chính

Tổng quan thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011

Quy mô thị trường so với GDP bị thu hẹp khi mức vốn hóa thị trường tại thời điểm 31/12/2011 giảm đáng kể, chỉ đạt 539.000 tỷ đồng, giảm 187.000 tỷ đồng (26%) so với mức 726.000 tỷ đồng cuối năm 2010

So với các nước trong khu vực, mức vốn hóa thị trường/GDP của thị trường chứng khoán Việt Nam vào loại thấp nhất.

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường sụt giảm mạnh nhất trên thế giới trong năm 2011. Thị trường chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất ổn vĩ mô như lạm phát cao, hệ thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, phần lớn doanh nghiệp không đạt được kế hoạch doanh thu và lợi nhuận đặt ra. Xu hướng suy giảm chiếm ưu thế rõ rệt với HNX-Index giảm 48,6%, VN Index giảm 27,5%. 62% số cổ phiếu trên cả 2 sàn có thị giá dưới mệnh giá.

Diễn biến VN Index và HNX Index

Thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh với tổng giá trị giao dịch của cả 2 sàn trong nhiều phiên dưới mức 1.000 tỷ đồng. Giá trị và khối lượng giao dịch bình quân 1 phiên tính chung cả HNX và HSX (theo phương thức khớp lệnh) trong năm 2011 là 790,72 tỷ đồng và 53,25 triệu cổ phiếu giảm 65% và 30% so với năm trước.

Đến 31/12/2011, có 699 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên hai sàn HSX và HNX (301 mã cổ phiếu, 5 chứng chỉ quỹ trên HSX; 393 mã cổ phiếu trên HNX). Thị trường mất cân đối lớn khi có ít công ty có quy mô lớn (chỉ có 58 công ty có vốn hóa thị trường trên 1.000 tỷ đồng), trong khi có có quá nhiều công ty có quy mô nhỏ (50% số công  ty niêm yết có vốn điều lệ và vốn hóa < 100 tỷ đồng), tổng vốn hóa thị trường của 20 doanh nghiệp hàng đầu chiếm hơn 69% vốn hóa thị trường của mỗi sàn giao dịch. Ngoài ra còn có khoảng 500 mã trái phiếu niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch và 130 mã cổ phiếu trên thị trường UpCom.

Trên thị trường hiện có 105 công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu với các nghiệp vụ chính là tự doanh, môi giới, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành và lưu ký chứng khoán. Trong đó, môi giới và tự doanh là 2 mảng mang lại doanh thu chính. Năm 2011, tổng vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán đạt 37.609 tỷ đồng, giảm 4% so với cuối năm 2010. Tổng tài sản của các công ty chứng khoán là 82.515 tỷ đồng  giảm 23% so với năm 2010. Sự sụt giảm này là do những bất ổn của kinh tế vĩ mô năm 2011 làm cho cả index và thanh khoản của thị trường đều suy giảm kéo dài, công ty chứng khoán phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, đồng thời doanh thu môi giới giảm mạnh (giảm 70%) so với năm 2010. Lợi nhuận của các công ty chứng khoán giảm 221% so với năm 2010, 61/105 công ty thua lỗ với tổng số lỗ lên tới 3.500 tỷ đồng.

Có sự phân hóa rõ rệt về quy mô vốn cũng như hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán. Các công ty có quy mô vốn trên 500 tỷ đồng chỉ chiếm 17% tuy nhiên lại chiếm khoảng 60% thị phần. Hiện 10 công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất đã chiếm 50% thị trường, hơn 90 công ty còn lại cạnh tranh gay gắt trên một nửa thị trường.Nhiều công ty chứng khoán có quy mô và năng lực tài chính thấp, không đảm bảo hiệu quả hoạt động. Đặc biệt có một số công ty chứng khoán hạn chế về năng lực, nghiệp vụ, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro.

Đến 31/12/2011, thị trường chứng khoán có 47 công ty quản lý quỹ với 24 quỹ đầu tư chứng khoán. Phần lớn (80%) các công ty quản lý quỹ có vốn điều lệ chỉ từ 25 đến 50 tỷ đồng, chỉ có 6 công ty có vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng, công ty có vốn điều lệ lớn nhất chỉ là 500 tỷ đồng. Trong 3 năm gần đây, các công ty quản lý quỹ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ cả nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Các chứng chỉ quỹ bị chiết khấu từ 29% đến 45% trên cả thị trường quốc tế và thị trường trong nước cũng làm nhà đầu tư chùn bước khi quyết định góp thêm vốn vào công ty quản lý quỹ.

Hoạt động kinh doanh của các công ty quản lý quỹ đang có sự phân hóa rõ rệt. Những công ty nhỏ do các công ty phi tài chính thành lập chỉ hoạt động cầm chừng. Những công ty do các định chế tài chính lớn thành lập được sự hỗ trợ vốn của công ty mẹ nên có lãi hoặc thua lỗ không đáng kể nên có thể trụ lại. Xu hướng hình thành quỹ mở là tất yếu và phần lớn quỹ đại chúng sẵn sàng chuyển đổi mô hình từ quỹ đóng sang quỹ mở do thị trường chứng khoán đi xuống nên việc huy động vốn thành lập quỹ càng khó khăn.

Nhóm Chứng khoán