Nghiên cứu trao đổi

Lãi suất, điều hành vốn và sức khỏe của nền kinh tế

Rất cần những người đang nắm cây gậy điều hành kinh tế phải thực sự có tầm và có tâm, từ bỏ những sự lệch lạc méo mó kiểu nhóm lợi ích.

Ở góc độ chủ quan, phải ghi nhận nỗ lực của những người đứng mũi chịu sào xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam khi họ luôn phải giải bài toán đa đáp số: trần lãi suất huy động, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, chỉ tiêu lạm phát… Tăng quy mô vốn, thường đổ vào khối doanh nghiệp nhà nước, để đổi lấy các mục tiêu tăng trưởng khó có thể phủ nhận trước hai thực tế: giai đoạn từ năm 2006 tới nửa đầu năm 2017, cường độ vốn luôn đóng góp trên 50%, thậm chí lên tới trên 90% vào chỉ tiêu tăng năng suất lao động (1) và báo cáo đánh giá về chi tiêu công Việt Nam do Chính phủ Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Thế giới công bố tháng 10/2017 cho thấy, tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam tăng khoảng 10% trong 5 năm qua.

Đối với bất cứ nền kinh tế nào, rất khó để thực hiện toàn vẹn, mười phân vẹn mười những mục tiêu có phần lệch pha với nhau như trên trong dài hạn. Vì vậy, chính sách tiền tệ, trong đó có vấn đề lãi suất buộc phải lựa chọn mục tiêu ưu tiên, hoặc là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường cho sự phát triển bền vững, hoặc là tiếp tục đáp ứng những nhiệm vụ ngắn hạn của nền kinh tế. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

‘Tất cả các điều kiện nói trên ở Việt Nam đang đi ngược, vì thế, cực kỳ khó giảm lãi suất’, vị chuyên gia thẳng thắn.Trao đổi với báo Đất Việt, Luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty Luật BASICO nhiều lần khẳng định, lãi suất là câu chuyện của thị trường. Vì vậy, làm cách nào để doanh nghiệp khỏe, thị trường tốt, hệ thống pháp lý chuẩn, nền kinh tế ít nợ xấu và nợ xấu được xử lý nhanh chóng, hiệu quả thì lãi suất tự khắc sẽ giảm.

Giả thiết dùng công cụ hành chính ép lãi suất huy động ở mức 2-3%, để có thể có lãi vay ở mức 5-6% không có hiệu lực thực tế. Bỏ qua khả năng dòng tiền tích lũy sang vàng, đô la, điều đáng lo ngại hơn là dòng tín dụng nhàn rỗi trong dân sẽ đi vào các địa chỉ cho vay không chính thức, để nhận mức lãi suất thực dương phù hợp với nguyện vọng của họ. Tín dụng đen hiện đã diễn biến hết sức phức tạp, tiềm ẩn những bất ổn cho xã hội, không thể mạo hiểm đưa ra một chủ trương sẽ khuyến khích thêm tình trạng này.

Ông Trương Thanh Đức tái khẳng định, không một mệnh lệnh hành chính nào có thể tác động đến lãi suất. Dù nhận chỉ đạo và dùng một vài biện pháp kỹ thuật làm lãi suất giảm xuống, câu chuyện lãi suất cộng với các khoản phí cộng thêm khiến yêu cầu giảm lãi suất chỉ còn lớp vỏ bề ngoài. Tóm lại, đây là câu chuyện sức khỏe nền kinh tế. Nếu nền kinh tế ốm yếu thì sẽ không thể có lãi suất thấp.

Khi đó, vòng luẩn quẩn đẩy nền kinh tế tốt lên để giảm lãi suất hay ngược lại phải chọn một đích đến ưu tiên. Theo Luật sư Trương Thanh Đức, hãy nói về nền kinh tế trước khi nói đến chuyện hạ lãi suất.

Tiếp cận theo cách này, cánh cửa đầu tiên cần mở là nâng cao hiệu quả khối nhà nước, bao gồm cả khối quản lý và khối doanh nghiệp. Đối với khối quản lý, phải tối ưu hóa hiệu quả quản lý với mục tiêu chi phí ít nhất và hiệu quả cao nhất. Nghĩa là, không thể để tồn tại tình trạng một Bộ có cả ngàn cán bộ từ cấp phó phòng, trưởng phòng như vừa phản ánh, không thể chấp nhận tình trạng bội chi ngân sách như một điều ‘tất dĩ ngẫu’ để phải tăng thu, song song với đó, không thể để tồn tại cả ngàn giấy phép con, doanh nghiệp nặng gánh bởi những chi phí không chính thức.

Mặt khác, phải kiên quyết và triệt để cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, trả nền kinh tế về cho thị trường, từ đó, để các nguồn lực xã hội được phân phối đều cho các bộ phận doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh minh bạch và bình đẳng cho tất cả mọi mắt xích trong guồng máy kinh tế Việt Nam.

Về phía ngân hàng, cần tạo hành lang pháp lý để hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động tự chủ, sòng phẳng. Hãy đảm bảo không còn chuyện ôm đồm chỗ nọ, che chắn chỗ kia… như vấn nạn nợ xấu, từ nhiễm trùng trở thành nhiễm khuẩn, nhiều trường hợp thành di căn khó có thể hồi phục như thời gian vừa qua.

Bàn về vấn đề này, lời giải của TS Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế độc lập lại xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của một ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương có quyền phát hành tiền tệ, có nguồn tín dụng không phải trả lãi suất nên có thể cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp để ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý. Nếu ngân hàng thương mại được vay từ Ngân hàng Trung ương với lãi suất 1-2%, họ sẽ có khả năng cho vay ở mức lãi suất có thể giúp doanh nghiệp đỡ thiệt thòi khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các nền kinh tế khác. Tất nhiên, nếu lựa chọn giải pháp này, Ngân hàng Trung ương phải thường trực cảnh giác, điều tiết lưu lượng tiền tệ phù hợp vừa đủ cho nền kinh tế, không nhiều quá gây ra lạm phát, cũng không quá ít gây ra thiểu phát.

Tiếng nói của TS Bùi Kiến Thành chưa nhận được nhiều sự đồng thuận của giới kinh tế trong nước có lẽ bởi lo ngại, những hệ lụy sẽ kéo đến nếu dòng tín dụng không đi vào đúng địa chỉ, không tạo ra được giá trị thặng dư theo đúng nguyên tắc của kinh tế thị trường: tiền phải đẻ ra tiền. Khi nền kinh tế nói chung vẫn đang phân vân trong phân bổ nguồn lực, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn đang được nhận diện như rào cản để thay đổi chất lượng tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế…, khó có thể yên tâm chỉ với niềm tin Ngân hàng Trung ương sẽ làm tốt sứ mệnh của nó.

Một ví dụ nhỏ: khi đưa ra gói hỗ trợ 30.000 tỷ cho bất động sản phân khúc nhà xã hội, những thất bại của chính sách này đến từ cách thức gói này vận hành có thể đưa ra một giải pháp trung hòa. Nghĩa là, những gói hỗ trợ đang được đưa ra như gói 100.000 tỷ dành cho nông nghiệp công nghệ cao phải được đưa đến đúng địa chỉ, để tạo ra được của cải vật chất cho xã hội và công ăn việc làm cho người lao động. Các chủ trương chính sách hỗ trợ cũng phải bám theo mục tiêu trên, thay vì chỉ nặng tính thành tích như nhiều trường hợp đã được ghi nhận từ trước tới nay. Có như vậy, động lực mới mới được hình thành và lan tỏa sang các thành tố khác của nền kinh tế.

Tất nhiên, để những khuyến nghị nói trên đi vào và phát huy hiệu quả trong thực tế, rất cần bộ máy điều hành kinh tế phải thực sự có tầm và có tâm, từ bỏ những sự lệch lạc lợi ích nhóm để có thể mang lại lợi ích thực sự to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Và người dân Việt vẫn đang kỳ vọng ngóng chờ nền kinh tế chuyển mình nhờ những quyết sách đúng đắn của một chính phủ kiến tạo.

(1) Báo cáo 'Động lực tăng trưởng: Thực trạng và áp lực đổi mới' của TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Nguồn: baodatviet.vn